Câu hỏi thường gặp khi chọn bình chứa khí nén

Trong cách chọn bình chứa khí nén đã hướng dẫn cùng những công thức để bạn có thể chọn được bình chứa khí nén phù hợp với hệ thống và nhu cầu sử dụng của mình.

Trong bài viết này sẽ là tập hợp các câu hỏi thường gặp liên quan đến việc chọn bình chứa khí nén và trong quá trình sử dụng bình chứa khí nén mà người dùng hay gặp phải.

Mục lục

Câu hỏi thường gặp khi chọn bình chứa khí nén

Dưới đây là các câu hỏi khi chọn bình chứa khí nén:

Nên dùng một bình lớn hay nhiều bình nhỏ?

Một bình chứa lớn phù hợp với lưu lượng của máy nén khí vẫn sẽ thuận tiện để quản lý và ít mối nối hơn. Nhiều bình thì lại linh hoạt hơn và đặt dự trữ gần nơi tiêu thụ, nhưng số van, đường ống và bảo dưỡng quản lý sẽ nhiều hơn.

Một bình chứa so với nhiều bình, một bình có các ưu điểm:

  • Ít đường nối và phụ kiện hơn, giảm các vị trí có thể rò rỉ.
  • Lắp đặt, xả nước và bảo dưỡng thuận tiện hơn.
  • Dễ bố trí, theo dõi và quản lý vận hành.

Hai bình phù hợp hơn khi có nhu cầu cụ thể: khó đưa bình lớn vào xưởng, cần dự trữ khí gần thiết bị tiêu thụ mạnh hoặc cần bố trí cả bình trước và sau máy sấy.

Ví dụ, nhu cầu sử dụng bình chứa của bạn sau khi tính toán là 3.000 lít. Lúc này, bạn có thể chọn một bình 3.000 lít hoặc hai bình 1.500 lít để thuận tiện vận chuyển, đưa vào nhà xưởng hoặc bố trí theo mặt bằng. Hai bình 1.500 lít có tổng dung tích tương đương một bình 3.000 lít, và có thể đáp ứng khả năng dự trữ khí tương đương khi cùng làm việc trong một khoảng áp suất, ở nhiệt độ tương đương và được đấu nối bằng đường ống đủ lớn.

Phương án hai bình linh hoạt hơn về vị trí lắp đặt, nhưng cần nhiều đường nối, phụ kiện và điểm bảo dưỡng hơn. Mỗi bình cần có van an toàn, đồng hồ áp suất và bộ xả nước phù hợp. Nếu đường nối quá nhỏ hoặc bị hạn chế lưu lượng, khí từ hai bình có thể không cấp kịp cho thiết bị dù tổng dung tích đã đủ.

Chọn bình chứa theo công suất HP hay lưu lượng máy nén?

Nên ưu tiên lưu lượng thực cấp của máy tại áp suất vận hành, sau đó xét nhu cầu sử dụng và cách điều khiển máy. Công suất HP chỉ giúp tra cứu ban đầu, vì hai máy cùng công suất có thể cấp lượng khí khác nhau.

Ví dụ, máy 10HP có lưu lượng 1,2 m³/phút có thể xem xét bình 500 lít làm phương án ban đầu, nhưng vẫn cần kiểm tra điều kiện làm việc của xưởng.

Máy nén ghi 1,2 m³/phút tại 8 bar, nhưng thiết bị dùng 7 bar thì lấy thông số nào?

Nếu máy nén vẫn vận hành ở 8 bar, còn thiết bị dùng 7 bar qua bộ điều áp, bạn vẫn lấy thông số 1,2 m³/phút tại 8 bar.

Nếu điều chỉnh chính máy nén xuống vận hành ở 7 bar, cần kiểm tra lưu lượng tương ứng trong tài liệu hãng khi tính chính xác.

Bình 500 lít kết hợp máy 1,2 m³/phút có cấp được 1,7 m³/phút không?

Có thể trong thời gian ngắn, nhưng không thể cộng trực tiếp hai thông số này. Lưu lượng máy tính bằng m³/phút, còn dung tích bình tính bằng lít.

Khi xưởng dùng 1,7 m³/phút, máy cấp 1,2 m³/phút và bình cấp bù phần thiếu 0,5 m³/phút. Bình cấp bù được bao lâu phụ thuộc dung tích, áp suất ban đầu và mức giảm áp cho phép.

Bình 500 lít dự trữ được bao nhiêu khí để sử dụng?

Không thể chỉ nhìn con số 500 lít; phải biết khoảng áp suất được phép sử dụng.

Ví dụ, bình 500 lít giảm từ 8 xuống 7 bar có thể cấp khoảng 500 lít khí quy đổi về áp suất khí quyển, theo phép tính gần đúng với nhiệt độ không đổi. Nếu thiết bị không được phép làm việc dưới mức áp suất đó, phần khí còn lại trong bình không được coi là dự trữ hữu ích cho công việc.

Bình lớn có khắc phục được tình trạng máy nén thiếu khí không?

Bình lớn hỗ trợ thiếu khí tạm thời, chẳng hạn nhiều súng bu lông hoạt động cùng lúc trong vài chục giây.

Nếu xưởng dùng nhiều hơn khả năng máy nén liên tục, bình chỉ kéo dài thời gian trước khi tụt áp. Khi đó cần xử lý rò rỉ, giảm số thiết bị chạy đồng thời hoặc bổ sung nguồn khí bàng việc sử dụng máy nén khí lớn hơn hoặc mua thêm máy nén khí.

Sau đợt dùng khí cao điểm, có phải chờ bình nạp đầy mới được làm tiếp?

Không nhất thiết. Nếu máy cấp đủ 1,2 m³/phút và xưởng giảm về dùng đúng mức này, công việc có thể tiếp tục khi áp suất vẫn đủ.

Tuy nhiên, bình chưa phục hồi lượng dự trữ. Muốn nạp lại bình, xưởng phải có lúc dùng ít hơn lượng máy đang cấp. Nếu tiếp tục dùng hết 1,2 m³/phút thì không còn khí dư để nạp lại vào bình.

Máy tạo bao nhiêu khí, xưởng dùng hết bấy nhiêu thì có thể bỏ bình không?

Không thể kết luận như vậy. Trong trạng thái cân bằng lý tưởng, bình không phải cấp bù; nhưng thực tế còn có lúc thiết bị bật, tắt, máy chuyển tải hoặc thay đổi tốc độ.

Bình giúp áp suất thay đổi chậm hơn trong những thời điểm này. Việc giảm dung tích hoặc bỏ bình riêng phải xét yêu cầu của hãng và khả năng đệm sẵn có của hệ thống.

Có thể dùng bình nhỏ hơn bảng tham khảo không?

Có thể, nếu tính toán và kiểm tra vận hành cho thấy vẫn đáp ứng yêu cầu. Bảng tham khảo không phải dung tích tối thiểu bắt buộc.

Cần kiểm tra áp suất tại thiết bị, tần suất chuyển tải của máy và các đợt tiêu thụ lớn. Không nên chọn bình nhỏ chỉ vì xưởng “chưa từng dùng quá lưu lượng máy”.

Máy biến tần có cần bình lớn như máy thường không?

Máy biến tần điều chỉnh lượng khí theo nhu cầu nên trong một số hệ thống có thể dùng bình nhỏ hơn. Tuy nhiên, không có quy tắc cứ dùng biến tần là giảm một nửa dung tích bình.

Nếu xưởng lấy khí mạnh theo từng đợt, vẫn cần đủ dung tích dự trữ. Máy biến tần cũng cần khoảng đệm khi tăng tốc hoặc khi nhu cầu xuống dưới mức lưu lượng tối thiểu của máy.

Bình càng lớn có càng tốt không?

Bình lớn giúp tăng lượng dự trữ và làm áp suất thay đổi chậm hơn, nhưng cũng tăng chi phí, diện tích và thời gian nạp ban đầu.

Nên chọn dung tích đủ đáp ứng công việc và cách điều khiển máy. Bình lớn không tự làm máy tạo ra nhiều khí hơn, cũng không tự bảo đảm tiết kiệm điện hơn.

Bạn có thể tưởng tượng đơn giản là bạn bơm đầy bình nước, vòi nước nhỏ thì mất rất lâu để làm đầy bình, nhưng vòi lớn thì bình nước đó sẽ đầy nhanh hơn đúng không? Cũng như vậy, nếu bình quá lớn mà khả năng tạo khí của máy nén lại quá nhỏ (lưu lượng) thì sẽ mất rất nhiều thời gian để đầy bình, chưa kể còn phải sử dụng lưu lượng ấy chứ không thể cứ chờ bình đầy mới sử dụng.

Vậy nên, bình phải phù hợp với lưu lượng của máy nén để vừa có thể dự trữ, vừa có thể sử dụng khí nén những lúc cao điểm và có thời gian cho máy nghỉ.

Bình trước và sau máy sấy có chọn giống nhau không?

Không nên mặc định giống nhau, vì nhiệm vụ và điều kiện làm việc khác nhau:

  • Bình trước sấy: dự trữ khí chưa xử lý, hỗ trợ làm nguội và thu nước ngưng. Khí cấp cho xưởng vẫn phải qua máy sấy, bộ lọc.
  • Bình sau sấy: dự trữ khí đã xử lý, hỗ trợ cấp trực tiếp cho mạng phân phối khi nhu cầu tăng nhanh.

Nếu dùng cả hai bình, cần tính phối hợp. Không mặc định cộng dung tích bình trước sấy vào dung tích dự trữ khí khô.

Khi nào cần dùng công thức tính bình bù khí ngắn hạn?

Dùng khi biết có một đợt tiêu thụ vượt lượng máy cấp, hoặc cần dự trữ khí trong lúc nguồn cấp chưa đáp ứng kịp.

Ví dụ, máy cấp 1,2 m³/phút nhưng xưởng cần 1,8 m³/phút trong 20 giây. Công thức giúp tính dung tích cần để bù phần thiếu mà áp suất không giảm dưới mức cho phép.

Kết quả tính bù khí là dung tích phải mua thêm hay tổng dung tích cần có?

Đó là tổng dung tích cần tham gia cấp bù cho đợt đã tính, không mặc định là phần mua thêm.

Ví dụ, kết quả là 1.200 lít và bạn đã có bình 1.000 lít thực sự tham gia cấp bù trong cùng khoảng áp suất thì phần thiếu lý thuyết là khoảng 200 lít. Khi mua vẫn cần xét dự phòng và cỡ bình thực tế.

Ngược lại, nếu kết quả chỉ là 200 lít thì không có nghĩa phải mua thêm 200 lít bên cạnh bình 1.000 lít.

Có giới hạn thời gian dùng khí vượt lưu lượng máy không?

Không có mức chung như 30 giây hay một phút. Thời gian đáp ứng phụ thuộc lượng khí thiếu, dung tích bình và mức giảm áp cho phép.

Đợt cao điểm càng dài thì cần càng nhiều dự trữ. Với các đợt lặp lại, phải kiểm tra bình có kịp nạp trước đợt tiếp theo không.

Tính thời gian nạp lại bình như thế nào cho dễ hiểu?

Lấy lượng khí đã dùng bù chia cho lưu lượng khí dư để nạp lại, với các đại lượng cùng quy về khí tự do.

Ví dụ, đợt cao điểm lấy từ bình 200 lít khí tự do. Sau đó máy cấp 1.200 lít/phút, xưởng dùng 800 lít/phút, còn dư 400 lít/phút. Thời gian nạp lại gần đúng là:

200 ÷ 400 = 0,5 phút, tương đương 30 giây.

Thực tế cần có dự phòng cho điều khiển máy và điều kiện cấp khí.

Chọn đúng dung tích đã đủ chưa?

Chưa. Ngoài số lít, cần kiểm tra áp suất làm việc cho phép của bình, tình trạng bình, hồ sơ chất lượng, van an toàn, đồng hồ, bộ xả nước và kích thước đường kết nối.

Hai bình cùng dung tích 1.000 lít nhưng chịu áp khác nhau không thể tự động thay thế nhau. Cũng không được lấy áp suất thử ghi trong hồ sơ làm áp suất vận hành cho phép, xem thông số áp suất thiết kế & áp suất làm việc để biết bình có thể chịu được áp bao nhiêu.

Đã lắp bình lớn mà thiết bị vẫn yếu hơi thì nên làm gì?

Kiểm tra áp suất ở cả bình và đầu vào thiết bị khi đang chạy:

  • Áp suất bình cũng giảm liên tục: kiểm tra lượng khí máy thực cấp, tổng tiêu thụ, rò rỉ và khả năng nạp lại.
  • Áp suất bình còn đủ nhưng thiết bị thiếu áp: kiểm tra đường ống, dây hơi, đầu nối, van điều áp, máy sấy và bộ lọc có gây cản trở dòng khí hay không.

Không nên tiếp tục tăng dung tích bình khi chưa xác định đúng nguyên nhân.

Câu hỏi thường gặp khi sử dụng bình chứa khí nén

Dưới đây là các câu hỏi thường gặp khi sử dụng bình chứa khí nén:

Bình sau máy sấy có làm khí ẩm trở lại không?

Bình sạch, không đọng nước và làm việc trong điều kiện phù hợp không tự làm khí ẩm hơn.

Nước có thể xuất hiện nếu máy sấy hoạt động không hiệu quả, bình còn nước tồn đọng hoặc khí bị lạnh xuống dưới điểm sương áp suất. Bình sau sấy vẫn cần điểm xả nước, nhưng không vì vậy mà cấu hình này kém hơn bình trước sấy.

Vì sao bình chứa có nhiều nước?

Không khí hút vào máy nén vốn có hơi ẩm. Sau khi nén và làm nguội, một phần hơi ẩm ngưng tụ thành nước, đặc biệt ở bình đặt trước máy sấy.

Có nhiều nước trong bình hơn bình thường không đồng nghĩa máy bị hỏng, có thể do hôm đó thời tiết có độ ẩm quá cao. Chính vì thế, bạn phải xả nước đều đặn để tránh tích tụ, giảm dung tích chứa khí và gây ăn mòn bên trong.

Bao lâu cần xả nước bình một lần?

Đối với bình chứa khí nén trong hệ thống máy nén khí trục vít, thời gian xả nước ngưng tụ phụ thuộc vào độ ẩm không khí và điều kiện vận hành.

  • Xả thủ công: Nên xả ít nhất 1 lần/ngày, tốt nhất vào cuối mỗi ca làm việc. Nếu môi trường ẩm hoặc máy chạy liên tục, nên kiểm tra và xả nhiều lần trong ngày.
  • Có van xả tự động: Kiểm tra hoạt động hằng ngày, vệ sinh và bảo dưỡng định kỳ để tránh tắc van.
  • Khi thấy nhiều nước ngưng: Cần tăng tần suất xả, tránh để nước tích tụ trong bình gây gỉ sét và ảnh hưởng chất lượng khí nén.

Dấu hiệu cần xả ngay

  • Nghe tiếng nước chảy trong bình khi van xả mở.
  • Áp suất khí ra không ổn định.
  • Khí nén có mùi ẩm, lẫn dầu.
  • Lượng nước xả ra nhiều bất thường.

Lưu ý an toàn:

  • Thực hiện theo hướng dẫn của nhà sản xuất; xả bằng van chuyên dụng và đứng tránh hướng phun.
  • Không tháo van hoặc mở cửa kiểm tra khi bình còn áp suất.
  • Khi cần bảo dưỡng bên trong, phải cô lập nguồn khí, xả hết áp suất và xác nhận áp suất bằng 0.
  • Không nhầm việc xả nước hằng ngày với kiểm định an toàn bình chịu áp lực; việc kiểm định phải thực hiện theo quy định áp dụng.

Khuyến nghị: Nếu bình chứa khí nén của bạn dùng van xả thủ công, hãy duy trì lịch xả mỗi ngày. Nếu dùng van xả tự động, vẫn cần kiểm tra để bảo đảm nước được thoát hết.

Van xả tự động không ra nước có phải bình đang khô không?

Không hẳn. Van xả tự động không ra nước chưa chắc bình chứa khí nén đang khô. Có thể do nhiều nguyên nhân:

  • Bình ít nước ngưng: Không khí đầu vào khô, môi trường ít ẩm hoặc máy chạy ít.
  • Van xả hoạt động theo chu kỳ: Chưa đến thời điểm xả nên bạn chưa thấy nước thoát ra.
  • Van bị tắc: Cặn bẩn, dầu hoặc rỉ sét làm tắc đường xả.
  • Van bị hỏng: Mất nguồn điện, hỏng cuộn coil, bộ hẹn giờ hoặc cơ cấu van.
  • Đường xả bị nghẹt: Nước có thể tích tụ nhưng không thoát ra ngoài.

Cách kiểm tra an toàn

  1. Kiểm tra nguồn điện và cài đặt thời gian xả của van (nếu là van điện tử).
  2. Quan sát xem van có phát tiếng đóng/mở theo chu kỳ hay không.
  3. Kiểm tra ống thoát có bị gập hoặc tắc không.
  4. Nếu nghi bình có nước nhưng van không xả, hãy ngừng máy, cô lập nguồn khí và xả hết áp suất về 0 bar trước khi kiểm tra, vệ sinh van theo hướng dẫn của nhà sản xuất.

Kiểm tra theo hướng dẫn của bộ xả. Tuyệt đối không tháo van hoặc nới lỏng đầu nối khi bình còn áp suất. Đừng dựa vào việc van không ra nước để kết luận bình khô; cần kiểm tra thực tế.

Van xả nước liên tục phát ra tiếng xì khí có bình thường không?

Van xả có thể thoát một ít khí trong lúc xả. Tuy nhiên, nếu xì liên tục ngoài chu kỳ, van có thể bị kẹt, bẩn hoặc đóng không kín.

Rò khí kéo dài làm máy phải chạy nhiều hơn. Cần bảo dưỡng hoặc thay bộ xả phù hợp, không bịt đường xả để chữa tạm.

Vì sao bình tụt áp nhanh khi đang sử dụng?

Có thể do nhiều thiết bị lấy khí cùng lúc, nhu cầu vượt lượng máy cấp, bình chưa được nạp đủ hoặc hệ thống bị rò khí.

Nếu trước đây cùng công việc vẫn chạy tốt nhưng gần đây tụt áp nhanh, nên kiểm tra rò rỉ và khả năng cấp khí của máy có bị kém đi không.

Nếu không tìm thấy rò rỉ, cần kiểm tra xem máy có thực sự ở chế độ LOAD hay UNLOAD

Cách kiểm tra để xác định nguyên nhân

Bước 1: Quan sát đồng hồ áp suất bình
Theo dõi áp suất khi không dùng khí và khi mở thiết bị sử dụng khí. Nếu áp suất chỉ tụt nhanh khi mở khí, cần kiểm tra lưu lượng tiêu thụ và khả năng cấp khí.

Bước 2: Kiểm tra rò rỉ
Khi hệ thống đã được nạp áp và ngừng sử dụng khí, kiểm tra các khớp nối, van và đường ống bằng dung dịch phát hiện rò rỉ phù hợp. Không dùng tay dò trực tiếp.

Bước 3: Quan sát máy nén
Khi áp suất giảm, kiểm tra máy có tự khởi động lại hoặc chuyển sang chế độ tải để bù khí không. Nếu máy chạy liên tục mà áp suất vẫn giảm, cần kiểm tra lưu lượng đầu ra và tình trạng máy.

Không sử dụng khí mà áp suất bình vẫn giảm là do đâu?

Có hai nhóm nguyên nhân thường gặp:

  • Khí vừa nạp còn nóng rồi nguội dần: áp suất giảm dù không mất khí.
  • Khí thoát khỏi hệ thống: qua đầu nối, van xả, thiết bị sử dụng hoặc đường khí hồi về máy nếu bộ phận chặn dòng có vấn đề.

Nếu nhiệt độ đã ổn định mà áp suất tiếp tục giảm đáng kể, cần kiểm tra rò rỉ. Không dùng tay dò vào vị trí nghi có tia khí rò mạnh.

Cách xác định nguyên nhân nhanh nhất

Vị trí cần kiểm traDấu hiệu
Van xả nước tự động dưới đáy bìnhXì khí liên tục dù không có nước
Khớp nối, đường ống, van khóaCó tiếng xì hoặc bọt khi thử rò
Van an toàn của bìnhCó khí thoát ra bất thường
Chế độ LOAD/UNLOAD của máyMotor chạy nhưng máy không thực sự nén khí
Lọc gió, van hút, cụm đầu nénMáy nén khí không đủ lưu lượng

Nếu không phát hiện rò rỉ thì quan sát đèn hoặc trạng thái LOAD/UNLOAD trên bộ điều khiển:

  • Nếu máy vẫn ở UNLOAD dù áp suất giảm: cần kiểm tra cảm biến áp suất, van điện từ và hệ thống điều khiển tải.
  • Nếu máy chuyển sang LOAD ở mức áp suất thấp nhưng áp suất không tăng lại: nghi ngờ rò rỉ lớn hoặc máy không đủ lưu lượng.

Đồng hồ bình báo đủ áp nhưng súng hoặc máy vẫn yếu hơi, vì sao?

Áp suất ở bình không nhất thiết bằng áp suất tại thiết bị khi đang chạy. Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này thường là áp suất tại thiết bị sử dụng thấp hơn áp suất trong bình khi có dòng khí chạy qua. Nói cách khác, bình có đủ áp nhưng khí không đến thiết bị với lưu lượng và áp suất cần thiết.

Đường ống nhỏ, dây hơi dài, đầu nối tiết diện hẹp, bộ lọc tắc hoặc van điều áp không đủ lưu lượng đều có thể gây tụt áp. Cần đo tại đầu vào thiết bị lúc hoạt động để xác định đúng nguyên nhân; tăng bình chưa chắc giải quyết được.

Cách kiểm tra nhanh tại xưởng

Bạn thực hiện theo thứ tự dưới đây để tránh các tháo lắp không cần thiết, tiết kiệm thời gian và chi phí:

Bước 1: Đo áp suất ngay tại đầu sử dụng khí.

  • Đọc áp suất bình khi chưa sử dụng khí.
  • Đo tiếp áp suất ở đầu súng hoặc đầu vào máy khi bóp cò hoặc vận hành.
  • Nếu áp suất ở đầu sử dụng giảm mạnh trong khi áp suất bình vẫn tương đối ổn định, hãy kiểm tra bộ lọc, bộ điều áp, ống dẫn và đầu nối.

Bước 2: Kiểm tra bộ điều áp và lọc khí. Xem áp suất cài đặt có phù hợp yêu cầu thiết bị không; kiểm tra chênh áp qua bộ lọc và vệ sinh hoặc thay lõi lọc theo hướng dẫn nhà sản xuất.

Bước 3: Kiểm tra ống dẫn. Đảm bảo van mở hết, ống không gập, không quá nhỏ và đầu nối phù hợp lưu lượng yêu cầu.

Bước 4: Nếu vẫn yếu, kiểm tra lưu lượng máy nén. Đối chiếu lưu lượng khí thực tế của máy (FAD) với nhu cầu của thiết bị, nhất là khi nhiều thiết bị hoạt động đồng thời. Không nên tăng áp suất cài đặt của máy nén ngay để khắc phục, vì việc đó có thể làm tăng điện năng tiêu thụ mà không giải quyết được điểm nghẽn.

Đã có bình lớn mà máy nén vẫn chạy liên tục, có bất thường không?

Không nhất thiết. Khi nhu cầu khí gần bằng lượng máy tạo ra, máy phải tiếp tục chạy để đáp ứng. Bình chứa lớn chỉ giúp dự trữ được nhiều khí hơn; nó không làm tăng lưu lượng khí mà máy nén tạo ra và không tự làm máy có thời gian nghỉ.

Nếu máy nén chạy liên tục nhưng áp suất vẫn giảm, có thể do hệ thống khí nén bị rò rỉ, lưu lượng tiêu thụ lớn hơn khả năng cấp của máy, máy nén khí bị giảm lưu lượng tạo ra hoặc hệ thống điều khiển có vấn đề.

Máy thường chuyển có tải/không tải quá nhanh có phải do bình nhỏ không?

Chế độ LOAD/UNLOAD quá nhanh có thể do bình nhỏ, tuy nhiên nó còn có thể do khoảng áp suất điều khiển quá hẹp hoặc nhu cầu khí thay đổi nhanh, hoặc do đường nối đến bình gây cản trở hoặc cài đặt chưa phù hợp.

Bạn cần biết rằng chuyển LOAD/UNLOAD là hoạt động bình thường của nhiều máy nén trục vít tốc độ cố định. Vấn đề nằm ở việc chuyển đổi quá thường xuyên, không phải cứ chuyển chế độ là máy bị lỗi.

Cần kiểm tra toàn bộ trước khi thay bình. Việc chỉnh áp suất và chu kỳ điều khiển phải nằm trong giới hạn của hãng.

Tốt nhất bạn nên ghi lại áp suất khi máy chuyển tải/không tải và đo thời gian của chúng khi nhu cầu sử dụng khí đang ở mức ổn định.

Nếu xác định là bình quá nhỏ gây ra hiện tượng chuyển nhanh bất thường, bạn cần tính toán dung tích của bình chứa khí nén phù hợp với lưu lượng của máy nén, nhu cầu sử dụng khí cả khi cao điểm nhất và dải áp suất cho phép trước khi đổi bình chứa.

Bình sau máy sấy vẫn có nước thì kiểm tra gì?

Bình sau máy sấy còn gọi là bình chứa khí khô, nếu vẫn có nước thì cần kiểm tra máy sấy có đang chạy đúng không, có bị hỏng bộ phận nào không, khả năng xử lý khí có như bình thường không, bộ xả nước có hoạt động không và có khí chưa qua sấy đi vào bình hay không. Đối với mua mới thì xem lưu lượng và nhiệt độ đầu vào có vượt khả năng xử lý không?

Ngoài ra, bình có thể còn nước tồn đọng từ trước. Khí cũng có thể ngưng tụ nếu bị lạnh xuống dưới điểm sương áp suất. Nên xử lý và xem xét triệt để, không chỉ xả nước ở bình chứa khô mà không xem xét nguyên nhân tại sao nó lại có nước.

Nước xả từ bình có dầu hoặc màu nâu có đáng lo không?

Với máy trục vít có dầu, nước ngưng trước xử lý có thể lẫn một phần dầu. Nếu lượng dầu tăng rõ rệt so với bình thường, cần kiểm tra máy nén và hệ thống tách dầu.

Nước màu nâu hoặc có cặn có thể liên quan đến gỉ trong bình hoặc đường ống. Nên kiểm tra tình trạng ăn mòn; không thể đánh giá độ an toàn của bình chỉ bằng màu nước. Nước ngưng lẫn dầu cần được thu gom, xử lý phù hợp.

Van an toàn trên bình tự xả khí thì phải làm gì?

Có thể áp suất đã chạm ngưỡng mở van, hệ thống điều khiển có vấn đề hoặc bản thân van bị hỏng.

Nếu van xả bất thường, cần dừng máy nén cấp vào bình và yêu cầu kỹ thuật kiểm tra. Không bịt van, khóa đường nối đến van hoặc tự siết chỉnh để van ngừng xả. Van an toàn là bộ phận bảo vệ khi áp suất tăng quá mức.

Đồng hồ áp suất đứng kim hoặc chỉ sai có tiếp tục dùng được không?

Không nên tiếp tục vận hành dựa vào một đồng hồ không đáng tin cậy. Cần kiểm tra đồng hồ và đường nối đến đồng hồ, thay thế khi cần.

Việc tháo thay phải thực hiện sau khi cô lập và xả hết áp ở phần liên quan. Không tự kết luận đã hết áp chỉ vì đồng hồ hỏng chỉ về 0.

Bình bị gỉ, rò ở thân hoặc mối hàn có hàn vá để dùng tiếp được không?

Tuyệt đối không tự hàn vá bình chịu áp. Khi thấy rò ở thân, mối hàn, biến dạng hoặc gỉ ăn sâu, cần ngừng sử dụng và để đơn vị có chuyên môn đánh giá.

Gỉ bên trong có thể làm mỏng thành bình dù bên ngoài còn đẹp. Việc sửa chữa hoặc thay mới phải dựa trên kiểm tra kỹ thuật, không chỉ thử xem bình còn giữ được hơi hay không.

Khi nào cần kiểm tra và bảo dưỡng bình?

Thời điểmCông việc cần thực hiện
Hằng ngàyXả nước ngưng hoặc kiểm tra van xả tự động; quan sát đồng hồ áp suất và phát hiện tiếng xì khí bất thường.
Hằng tuầnKiểm tra bên ngoài bình, van xả, đường ống, chân đế và các dấu hiệu rỉ sét.
Hằng thángKiểm tra rò rỉ kỹ hơn tại các mối nối, tình trạng thoát nước và độ chắc chắn của hệ thống lắp đặt.
Định kỳ theo nhà sản xuấtKiểm tra chuyên sâu bình, áp kế, van an toàn và các bộ phận liên quan bởi người có chuyên môn.

Việc xả nước ngưng hằng ngày và kiểm tra rò rỉ thường xuyên là những biện pháp bảo dưỡng cơ bản giúp hạn chế ăn mòn bên trong bình.

Trong quá trình sử dụng, cần theo dõi áp suất, bộ xả nước, tiếng rò khí, tình trạng thân bình, chân đỡ và các đường nối. Bảo dưỡng, kiểm tra và kiểm định theo hồ sơ thiết bị cùng yêu cầu áp dụng.

Khi nào phải dừng sử dụng và kiểm tra ngay?

Ngừng vận hành, ngắt hoàn toàn nguồn điện và hơi, yêu cầu kỹ thuật viên kiểm tra nếu phát hiện:

  • Thành bình bị phồng, nứt hoặc rỉ sét sâu.
  • Khí rò tại thân bình hoặc đường hàn.
  • Van an toàn có dấu hiệu hỏng hoặc không kín.
  • Đồng hồ áp suất bất thường hoặc bình tụt áp nhanh không rõ nguyên nhân.

Không tự hàn vá, khoan, mài thân bình hoặc tháo phụ kiện khi bình còn áp suất.

Trước khi tháo phụ kiện hoặc sửa chữa, phải ngăn mọi nguồn cấp khí, xả hết áp và xác nhận phần cần làm việc không còn áp suất. Tắt máy nén không có nghĩa bình và đường ống đã hết khí nén.

Chu kỳ kiểm định an toàn tại Việt Nam: Theo quy trình QTKĐ: 07-2016/BLĐTBXH về kiểm định bình chịu áp lực, chu kỳ thông thường là 3 năm/lần; rút ngắn còn 2 năm hoặc 1 năm đối với các trường hợp được quy định theo tuổi bình và tính chất môi chất. Bình thuộc diện kiểm định phải được kiểm định lần đầu trước khi đưa vào sử dụng và kiểm định lại theo thời hạn áp dụng.

Đây là kiểm định an toàn, khác với việc vệ sinh, xả nước và bảo dưỡng định kỳ. Hãy đối chiếu hồ sơ bình, tem kiểm định và yêu cầu áp dụng cho thiết bị cụ thể

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *